THỐNG KÊ TRUY CẬP

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay202
mod_vvisit_counterHôm qua1050
mod_vvisit_counterTuần này5937
mod_vvisit_counterTuần trước5563
mod_vvisit_counterTháng này20914
mod_vvisit_counterTháng trước27443
mod_vvisit_counterTất cả2012224

Hiện có: 8 khách trực tuyến

TƯ VẤN TRỰC TUYẾN

571 Bình Thới, Phường 10, Quận 11, Tp. Hồ Chí Minh
Tel: (028) 3858 2596
Hotline: 0934 4444 79
Call Tư vấn pháp luật
Tư vấn pháp luật
Call Tư vấn pháp luật
Tư vấn pháp luật
 

MUA BÁN NHÀ ĐẤT

TÌM KIẾM

HỎI & ĐÁP PHÁP LUẬT

ẤN PHẨM VÀ BÀI VIẾT

Get the Flash Player to see this rotator.

LIÊN KẾT WEBSITE

Hỏi-Đáp Luật doanh nghiệp

:: Câu hỏi :: Tôi là thành viên ban kiểm soát (BKS) của Công ty đại chúng chưa niêm yết X nhiệm kỳ 2007-2010. Đến nay, tôi vẫn chưa hết nhiệm kỳ. Cả năm 2009, tôi được mời họp BKS của Công ty. Tôi cũng không hề được tham gia vào cuộc họp BKS để cho ra báo cáo BKS để trình ĐHĐCĐ năm 2010 ngày 9/4 vừa qua. Tôi được biết, báo cáo BKS này chỉ được xây dựng bởi Trưởng BKS (1 thành viên BKS còn lại cũng không được tham gia). Xin hỏi, việc vận hành của BKS như vậy có đúng luật hay không? Bản báo cáo kể trên có giá trị hay không? Tôi phải làm gì để thực hiện đúng quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của 1 thành viên BKS?

:: Câu hỏi 1:: Tôi là thành viên ban kiểm soát (BKS) của Công ty đại chúng chưa niêm yết X nhiệm kỳ 2007-2010. Đến nay, tôi vẫn chưa hết nhiệm kỳ. Cả năm 2009, tôi được mời họp BKS của Công ty. Tôi cũng không hề được tham gia vào cuộc họp BKS để cho ra báo cáo BKS để trình ĐHĐCĐ năm 2010 ngày 9/4 vừa qua. Tôi được biết, báo cáo BKS này chỉ được xây dựng bởi Trưởng BKS (1 thành viên BKS còn lại cũng không được tham gia). Xin hỏi, việc vận hành của BKS như vậy có đúng luật hay không? Bản báo cáo kể trên có giá trị hay không? Tôi phải làm gì để thực hiện đúng quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của 1 thành viên BKS?


Trả lời:

Quyền và nhiệm vụ của BKS được quy định tại Điều 123 Luật Doanh nghiệp, theo đó BKS hoạt động như là một “ban” chứ không phải hoạt động trên tư cách từng thành viên. Hơn nữa khoản 2 Điều 121 Luật Doanh nghiệp có quy định: "Quyền và nhiệm vụ của Trưởng ban kiểm soát do Điều lệ Công ty quy định." Do đó, để xác định: (i) việc vận hành của BKS và (ii) giá trị của Báo cáo của BKS hàng năm chỉ do Trưởng BKS lập và trình ĐHĐCĐ năm 2010 như trên, bạn cần phải kiểm tra thêm các điều khoản của  Điều lệ Công ty. Nếu Điều lệ Công ty quy định Trưởng BKS có quyền tự mình thông qua báo cáo, thì việc vận hành và lập báo cáo của BKS phải tuân thủ theo quy định đó. Trong trường hợp Điều lệ Công ty không có quy định, thì Bản báo cáo hằng năm của BKS phải do BKS cùng thông qua. Trong trường hợp đó, báo cáo chỉ do Trưởng BKS lập và trình ĐHĐCĐ là không phù hợp theo quy định pháp luật, nên không có giá trị pháp lý.

Theo Khoản 1 Điều 123 Luật Doanh nghiệp, BKS phải chịu trách nhiệm trước ĐHĐCĐ trong khi thực hiện các nhiệm vụ được giao, nên khi phát hiện bản báo cáo trên phản ánh những thông tin không trung thực, bạn cần phải thông báo cho ĐHĐCĐ biết về sự việc trên.

Một trong những quyền và nhiệm vụ của BKS được quy định cụ thể tại Điều 123 Luật Doanh nghiệp là thẩm định và trình báo cáo tài chính, báo cáo tình hình kinh doanh hằng năm của công ty và báo cáo đánh giá quản lý của Hội đồng quản trị ("Các Báo cáo") lên ĐHĐCĐ tại cuộc họp thường niên. Các Báo Cáo này phải được gửi đến BKS để thẩm định chậm nhất 30 ngày trước ngày khai mạc cuộc họp thường niên của ĐHĐCĐ nếu Điều lệ công ty không có quy định khác. Trong thời hạn trên, nếu bạn là thành viên BKS mà không nhận được các báo cáo trên, thì có quyền yêu cầu được cung cấp các báo cáo trên để bạn có thể thực hiện nhiệm vụ thẩm định Các Báo Cáo của BKS như luật định.

 

:: Câu hỏi 2:: Tôi là chủ tịch Hội đồng quản trị (“HĐQT”) của 1 công ty đại chúng. Theo quy định, nhiệm kỳ của HĐQT, Ban Kiểm soát (“BKS”) là 5 năm nên nhiệm kỳ 1 của HĐQT, BKS sẽ hết hạn vào tháng 11/2010. Tuy nhiên để thuận tiện trong việc tổ chức bầu HĐQT, BKS công ty nhiệm kỳ 2, HĐQT muốn trình Đại hội đồng cổ đông (“ĐHĐCĐ”) gần nhất (ngày 19/4/2010) gia hạn nhiệm kỳ 1 của HĐQT, BKS đến tháng 4/2011. Xin hỏi, việc gia hạn này có đúng hay không? Nếu không xin ý kiến cổ đông trực tiếp tại ĐHĐCĐ thì HĐQT có thể xin ý kiến cổ đông gián tiếp bằng văn bản được không? Nếu đại hội không thông qua việc gia hạn thì công tác bầu HĐQT, BKS nhiệm kỳ 2 sẽ được tổ chức ra sao mới đúng luật?

Trả lời:

1. Liên quan đến việc gia hạn nhiệm kỳ của HĐQT và BKS:

Hiện nay, theo quy định của pháp luật, nhiệm kỳ của HĐQT sẽ là 5 năm, nhiệm kỳ của thành viên HĐQT và BKS không quá 5 năm. Như vậy, Luật doanh nghiệp không đề cập đến việc gia hạn nhiệm kỳ của HĐQT và BKS quá 5 năm.

Khoản 3 điều 121 Luật Doanh nghiệp: “Trong trường hợp vào thời điểm kết thúc nhiệm kỳ mà BKS nhiệm kỳ mới chưa được bầu thì BKS đã hết nhiệm kỳ vẫn tiếp tục thực hiện quyền và nhiệm vụ cho đến khi BKS nhiệm kỳ mới được bầu và nhận nhiệm vụ”.

Khoản 2 Điều 109 Luật Doanh nghiệp: “HĐQT của nhiệm kỳ vừa kết thúc tiếp tục hoạt động cho đến khi HĐQT mới được bầu và tiếp quản công việc”.

Như vậy, căn cứ vào Khoản 3 Điều 121, Khoản 2 Điều 109 Luật Doanh nghiệp thì HĐQT và BKS được tiếp tục thực hiện nhiệm kỳ của mình trong khi HĐQT và BKS mới được bầu và nhận nhiệm vụ. Điều này có nghĩa rằng, một cách gián tiếp, nhiệm kỳ của BKS và  HĐQT được tự động gia hạn mà không cần phải xin phép.

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, theo điểm b Khoản 3 Điều 79 Luật Doanh nghiệp, trong trường hợp nhiệm kỳ của HĐQT đã vượt quá 6 tháng mà HĐQT mới chưa được bầu, thì cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục ít nhất 6 tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại Điều lệ công ty, có quyền yêu cầu triệu tập họp ĐHĐCĐ để bầu HĐQT nhiệm kỳ mới.

2. Liên quan thủ tục bầu HĐQT và BKS:

Nếu Điều lệ Công ty không quy định khác, thì căn cứ điểm d khoản 2 Điều 104 Luật Doanh nghiệp, việc bầu HĐQT và BKS nhiệm kỳ mới phải được thông qua bằng hình thức biểu quyết tại cuộc họp ĐHĐCĐ chứ không được phép lấy ý kiến ĐHĐCĐ bằng văn bản. Theo Nghị quyết số 71/2006/QH11 của Quốc hội ngày 29 tháng 11 năm 2006 phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) của Việt Nam thì Quyết định này sẽ được thông qua khi Được số cổ đông đại diện ít nhất 51 % tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận trừ trường hợp Điều lệ quy định khác.

 

:: Câu hỏi 3:: Tôi là thành viên ban kiểm soát (BKS) của Công ty đại chúng chưa niêm yết X nhiệm kỳ 2007-2010. Đến nay, tôi vẫn chưa hết nhiệm kỳ. Cả năm 2009, tôi được mời họp BKS của Công ty. Tôi cũng không hề được tham gia vào cuộc họp BKS để cho ra báo cáo BKS để trình ĐHĐCĐ năm 2010 ngày 9/4 vừa qua. Tôi được biết, báo cáo BKS này chỉ được xây dựng bởi Trưởng BKS (1 thành viên BKS còn lại cũng không được tham gia). Xin hỏi, việc vận hành của BKS như vậy có đúng luật hay không? Bản báo cáo kể trên có giá trị hay không? Tôi phải làm gì để thực hiện đúng quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của 1 thành viên BKS?


Trả lời:

Quyền và nhiệm vụ của BKS được quy định tại Điều 123 Luật Doanh nghiệp, theo đó BKS hoạt động như là một “ban” chứ không phải hoạt động trên tư cách từng thành viên. Hơn nữa khoản 2 Điều 121 Luật Doanh nghiệp có quy định: "Quyền và nhiệm vụ của Trưởng ban kiểm soát do Điều lệ Công ty quy định." Do đó, để xác định: (i) việc vận hành của BKS và (ii) giá trị của Báo cáo của BKS hàng năm chỉ do Trưởng BKS lập và trình ĐHĐCĐ năm 2010 như trên, bạn cần phải kiểm tra thêm các điều khoản của  Điều lệ Công ty. Nếu Điều lệ Công ty quy định Trưởng BKS có quyền tự mình thông qua báo cáo, thì việc vận hành và lập báo cáo của BKS phải tuân thủ theo quy định đó. Trong trường hợp Điều lệ Công ty không có quy định, thì Bản báo cáo hằng năm của BKS phải do BKS cùng thông qua. Trong trường hợp đó, báo cáo chỉ do Trưởng BKS lập và trình ĐHĐCĐ là không phù hợp theo quy định pháp luật, nên không có giá trị pháp lý.  

Theo Khoản 1 Điều 123 Luật Doanh nghiệp, BKS phải chịu trách nhiệm trước ĐHĐCĐ trong khi thực hiện các nhiệm vụ được giao, nên khi phát hiện bản báo cáo trên phản ánh những thông tin không trung thực, bạn cần phải thông báo cho ĐHĐCĐ biết về sự việc trên.

Một trong những quyền và nhiệm vụ của BKS được quy định cụ thể tại Điều 123 Luật Doanh nghiệp là thẩm định và trình báo cáo tài chính, báo cáo tình hình kinh doanh hằng năm của công ty và báo cáo đánh giá quản lý của Hội đồng quản trị ("Các Báo cáo") lên ĐHĐCĐ tại cuộc họp thường niên. Các Báo Cáo này phải được gửi đến BKS để thẩm định chậm nhất 30 ngày trước ngày khai mạc cuộc họp thường niên của ĐHĐCĐ nếu Điều lệ công ty không có quy định khác. Trong thời hạn trên, nếu bạn là thành viên BKS mà không nhận được các báo cáo trên, thì có quyền yêu cầu được cung cấp các báo cáo trên để bạn có thể thực hiện nhiệm vụ thẩm định Các Báo Cáo của BKS như luật định.

 

:: Câu hỏi 4:: Khi các Công ty cổ phần muốn phát hành thêm cổ phần để tăng vốn điều lệ, pháp luật quy định ra sao về tỷ lệ số vốn muốn phát hành thêm so với tổng vốn điều lệ hiện có. Pháp lụât có giới hạn số vốn mà doanh nghiệp được phép tăng trong 1 năm hay không?


Trả lời:

Về nguyên tắc, đối với công ty niêm yết hoặc công ty chưa niêm yết đều có hai hình thức chào bán cổ phần cơ bản là chào bán cổ phần ra công chúng và chào bán cổ phần riêng lẻ. Pháp luật không quy định về tỷ lệ số vốn mà DN muốn phát hành thêm cũng không giới hạn số vốn mà DN được phép tăng trong 1 năm. Doanh nghiệp chỉ cần đáp ứng các quy định đối với việc chào bán chứng khoán ra công chúng và chào bán riêng lẻ.
Để chào bán cổ phiếu ra công chúng, doanh nghiệp phải đáp ứng điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều 12 của Luật chứng khoán 2006:

Hiện tại không có quy định cụ thể về khoảng cách giữa các đợt chào bán chứng khoán ra công chúng để tăng vốn Điều lệ.

Để chào bán chứng khoán riêng lẻ, doanh nghiệp phải đáp ứng điều kiện quy định tại Điều 8 của Nghị định 01/2010 của Chính phủ về Chào bán cổ phần riêng lẻ.

Về khoảng cách giữa các đợt chào bán cổ phần riêng lẻ để tăng vốn Điều lệ:

Theo quy định tại Khoản 5 Điều 8 Nghị định 01/2010, các đợt chào bán cổ phần riêng lẻ để tăng vốn Điều lệ phải cách nhau ít nhất sáu tháng. Vi phạm quy định này, việc chào bán sẽ bị coi là vô hiệu và không được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận tăng vốn điều lệ.
Đặc biệt, vi phạm quy định về hồ sơ, điều kiện và tổ chức việc chào bán cổ phần riêng lẻ sẽ bị phạt từ 30 - 100 triệu đồng.

Tuy nhiên Nghị định 01/2010 sẽ có hiệu lực kể từ ngày 25 tháng 02 năm 2010. Do vậy, trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực, pháp luật không có quy định cụ thể nào về việc chào bán cổ phần riêng lẻ. Việc chào bán cổ phần riêng lẻ của doanh nghiệp được thực hiện theo Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật chứng khoán 2006.

 

Bài viết có liên quan...

1. CHUYÊN TRANG TƯ VẤN PHÁP LUẬT - TẠP CHÍ ĐỊA ỐC VIỆT NAM Số 19 - T3/2012

Vui lòng xem thông tin tại đây - Download

 

2. CHUYÊN TRANG TƯ VẤN PHÁP LUẬT - TẠP CHÍ ĐỊA ỐC VIỆT NAM Số 16 - T12/2011

Vui lòng xem thông tin tại đây - Download

 

3. CHUYÊN TRANG TƯ VẤN PHÁP LUẬT - TẠP CHÍ ĐỊA ỐC VIỆT NAM Số 12 - T9/2011

Vui lòng xem thông tin tại đây - Download