THỐNG KÊ TRUY CẬP

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay228
mod_vvisit_counterHôm qua1050
mod_vvisit_counterTuần này5963
mod_vvisit_counterTuần trước5563
mod_vvisit_counterTháng này20940
mod_vvisit_counterTháng trước27443
mod_vvisit_counterTất cả2012250

Hiện có: 6 khách trực tuyến

TƯ VẤN TRỰC TUYẾN

571 Bình Thới, Phường 10, Quận 11, Tp. Hồ Chí Minh
Tel: (028) 3858 2596
Hotline: 0934 4444 79
Call Tư vấn pháp luật
Tư vấn pháp luật
Call Tư vấn pháp luật
Tư vấn pháp luật
 

MUA BÁN NHÀ ĐẤT

TÌM KIẾM

HỎI & ĐÁP PHÁP LUẬT

ẤN PHẨM VÀ BÀI VIẾT

Get the Flash Player to see this rotator.

LIÊN KẾT WEBSITE

Hỏi-Đáp Luật hôn nhân gia đình

:: Câu hỏi :: Chồng sắp cưới của tôi ở Mỹ, muốn làm giấy ĐKKH với tôi tại VN. Xin hỏi hồ sơ thủ tục thế nào ? Chồng tôi đi khám sức khỏe tâm thần ở Mỹ rồi nộp vào hồ sơ này được không ? Nếu giấy này đựơc chấp nhận, sau khi kết hôn chồng tôi có phải viết giấy cam kết tiếp tục khám sức khỏe tâm thần ở Tp.HCM nữa hay không ?

:: Câu hỏi 1:: Chồng sắp cưới của tôi ở Mỹ, muốn làm giấy ĐKKH với tôi tại VN. Xin hỏi hồ sơ thủ tục thế nào ? Chồng tôi đi khám sức khỏe tâm thần ở Mỹ rồi nộp vào hồ sơ này được không ? Nếu giấy này đựơc chấp nhận, sau khi kết hôn chồng tôi có phải viết giấy cam kết tiếp tục khám sức khỏe tâm thần ở Tp.HCM nữa hay không ?

Trả lời:

_ Trường hợp này bạn sẽ làm thủ tục ĐKKH tại Sở Tư Pháp Tp.HCM. Theo hướng dẫn của Sở Tư Pháp, hồ sơ kết hôn có yếu tố nước ngoài của các bên gồm:

i) Tờ khai ĐKKH theo mẫu của Bộ Tư Pháp, có xác nhận chưa quá 06 tháng tính đến ngày nhận hồ sơ của cơ quan thẩm quyền (đối với bên VN là UBND cấp phường) về việc hiện tại người đó không có vợ hoặc chồng. Đối với bên nước ngoài, nếu pháp luật nước họ không qui định việc xác nhận vào tờ khai thì thay thế bằng xác nhận lời tuyên thệ của đương sự về việc không có vợ/ chồng phù hợp pháp luật nước đó.
ii) Giấy xác nhận của tổ chức Y tế có thẩm quyền của VN (Trung tâm sức khỏe tâm thần Tp.HCM) hoặc nước ngoài (đối với bên nước ngoài) cấp chưa quá 06 tháng tính đến ngày nhận hồ sơ, xác nhận hiện tại người đó không mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh tâm thần nhưng chưa đến mức không có khả năng nhận thức được hành vi. Lưu ý là nếu bên nước ngoài làm tại nước của họ thì phải khám ở bệnh viện công và khám tâm thần (nhiều trường hợp đã bị trả hồ sơ vì nộp giấy khám sức khỏe thông thường).
iii) Bản sao CMND và hộ khẩu bên VN, hộ chiếu (bên nứơc ngoài).

iv) Lý lịch cá nhân theo mẫu.

Lưu ý : Các giấy tờ bằng tiếng nước ngoài phải nộp bản chính, được hợp pháp hoá Lãnh Sự bởi cơ quan đại diện ngoại giao VN ở nước đó, hoặc được thị thực bởi cơ quan ngoại giao của nước đó tại Tp.HCM, sau đó Sở Ngoại Vụ Tp.HCM ủy nhiệm hợp pháp hoá các giấy tờ này. Nộp kèm bản dịch tiếng Việt có xác nhận của Phòng Công Chứng Nhà Nước. Hồ sơ lập thành 02 bộ, nộp tại Phòng Hộ Tịch – Lý Lịch Tư Pháp – Quốc tịch (Sở Tư Pháp Tp.HCM – số 141 – 143 Pasteur Q3 Tp.HCM).

Hiện tại không có qui định nào về việc sau khi được cấp giấy ĐKKH bên nước ngoài lại phải làm cam kết tiếp tục khám sức khỏe tại VN.

 

:: Câu hỏi 2:: Bạn trai tôi hiện đang sinh sống ở Mỹ và có quốc tịch Hoa Kỳ. Nay anh ấy muốn về Việt Nam để đăng ký kết hôn với tôi và bảo lãnh tôi qua bên đó theo diện vợ chồng thì hồ sơ cần những gì và bao lâu thì được đi?

Trả lời:

_ Trong trường hợp này, xuất cảnh đến Hoa Kỳ theo diện của chị là di dân theo quan hệ gia đình (chồng vợ của công dân Hoa Kỳ) F2A.

Thủ tục và tiến trình thực hiện như sau: Sau khi hai người có giấy chứng nhận kết hôn, chồng chị phải điền và nộp đơn I.130 tại Sở di chú Hoa Kỳ (BCIS) để bảo lãnh chị. Khi thủ tục hoàn tất, BCIS sẽ chuyển hồ sơ bảo lãnh trên đến trung tâm thị thực quốc gia (NVC).

Khi hồ sơ đến hạn (thông thường khoảng chín tháng kể từ ngày hồ sơ được chấp nhận), Trung tâm visa Hoa Kỳ sẽ gửi đến chị mẫu đơn “chọn người đại diện”. Nếu có chọn người đại diện chồng chị, NVC sẽ gửi đến chồng chị mẫu đơn DS.230 phần I và hướng dẫn đóng lệ phí phỏng vấn.
Khi trung tâm visa sẽ chuyển tất cả hồ sơ bảo lãnh trên đến Tổng lãnh sự quán Hoa Kỳ tại TP.HCM để phỏng vấn và cấp visa.

Việc cấp hay chưa cấp hoặc không cấp visa phụ thuộc các bằng chứng chứng minh mối quan hệ vợ chồng thật sự của anh chị và thỏa mãn một số điều kiện khác của Luật di trú Hoa Kỳ về bảo lãnh…

Thông thường khoảng thời gian từ lúc mở hồ sơ bảo lãnh đến khi hoàn tất thủ tục phỏng phấn và cấp visa khoảng hơn một năm.

Trên đây là những thông tin cơ bản, chị có thể liên hệ trực tiếp Tổng lãnh sữ quán Hoa Kỳ tại số 4 Lê Duẩn, P.Bến Nghé, Q.1, TP.HCM để biết chi tiết hơn.

 

:: Câu hỏi 3:: Tôi kết hôn hợp pháp, có con chung nhưng không có tài sản chung với chồng. Vợ chồng đã ly thân được 10 năm. Nay tôi muốn ly hôn nhưng không biết chồng tôi ở đâu. Trước khi chồng tôi bỏ đi ông ấy đã ở rất nhiều nơi. Vậy về mặt pháp lý tôi phải làm thủ tục gì và nếu toà xử thì án phí bao nhiêu?

Trả lời:

_ Theo điều 36, khoản 1 Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự, trong trường hợp này bà có thể gửi đơn xin ly hôn đến toà án nơi cư trú cuối cùng của chồng bà mà bà biết được. Toà án sẽ thụ lý và thực hiện thủ tục thông báo tìm người vắng mặt. Sau thời gian thông báo này, nếu chồng bà có mặt hoặc không có mặt, toà án cũng sẽ xét xử để xem xét yêu cầu của bà theo qui định pháp luật. Tạm ứng án phí trong trường hợp này bà phải đóng 200.000 đồng.

 

:: Câu hỏi 4:: Mẹ tôi đã nộp đơn xin ly hôn đến toà án quận Bình Thạnh từ tháng 04/2010 nhưng đến nay vẫn chưa được xét xử dù đã đóng án phí. Vừa rồi tôi lên hỏi thư ký thì đuợc trả lời là cứ chờ. Vậy xin hỏi Mẹ tôi phải chờ trong bao lâu để được ly hôn ? Nếu toà án vẫn không mở phiên toà xét xử thì Mẹ tôi có quyền khiếu nại ở đâu ?

Trả lời:

_ Hồ sơ xin ly hôn đã được toà thụ lý từ tháng 04/2010 mà đến nay chưa giải quyết và cũng không có bất kỳ quyết định nào được ban hành là toà án đã vi phạm về thời hạn tố tụng. Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự qui định : đối với các vụ án về hôn nhân và gia đình (trong đó có vụ án ly hôn), thời hạn giải quyết là bốn tháng kể từ ngày thụ lý. Với vụ án phức tạp hoặc có trở ngại khách quan thì chánh án có thể gia hạn thêm thời hạn nhưng không được quá 02 tháng. Hết thời hạn này nếu không có căn cứ ra quyết định tạm đình chỉ hoặc quyết định đình chỉ, toà án phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử và mở phiên toà sơ thẩm theo luật định.

Để vụ án được giải quyết, Mẹ ông có thể gửi đơn khiếu nại đến chánh án Toà án nhân dân TP.HCM và chánh án toà án nhân dân quận đã thụ lý vụ án, yêu cầu tòa án phải giải quyết vụ án đúng qui định của pháp luật.


(Có thể tự mình xin ly hôn ?)

:: Câu hỏi 5:: Vợ chồng tôi mâu thuẫn trầm trọng, tôi đã viết đơn xin ly hôn nhưng chồng tôi không ký. Tôi không biết có quyền tự mình xin ly hôn không ? Thủ tục giải quyết như thế nào ?

Trả lời:

_ Luật HNGĐ qui định : “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu toà án giải quyết việc ly hôn”. Vì vậy, nếu một bên vợ hoặc chồng muốn xin ly hôn mà bên còn lại không đồng ý thì một người có quyền tự mình viết đơn xin ly hôn để yêu cầu toà án giải quyết. Đó là đơn khởi kiện về việc xin ly hôn.
Nếu cả hai vợ chồng đều đồng ý ly hôn, thống nhất việc phân chia tài sản và trách nhiệm nuôi con chưa thành niên thì cả hai vợ chồng phải cùng ký vào đơn. Đó là đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn.

Trong trường hợp này bà có quyền viết đơn xin ly hôn gửi đến toà án cấp quận huyện, nơi chồng bà đang cư trú hoặc làm việc, để được thụ lý giải quyết.

Thủ tục : Sau khi nộp đơn, toà án sẽ yêu cầu đóng tiền tạm ứng án phí. Sau đó tòa sẽ thụ lý và giải quyết, cụ thể như sau : sau khi thụ lý, tòa án sẽ thông báo cho chồng bà biết việc khởi kiện của bà để chồng bà trình bày ý kiến, sau đó tòa án sẽ mời vợ chồng bà đến hoà giải, nếu hoà giải không đạt kết quả thì tòa án sẽ mở phiên tòa để xét xử. Sau khi tòa án xét xử sơ thẩm xong và có bản án, nếu bà và chồng bà không đồng ý với phán quyết của tòa án thì có quyền kháng cáo để yêu cầu tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại. Bản án của toà phúc thẩm có hiệu lực ngay sau khi tuyên án.


(Không biết vợ vay tiền chi trong gia đình, chồng vẫn phải liên đới trả nợ)

:: Câu hỏi 6:: Vợ tôi vay mượn khoảng 60 triệu đồng, lãi suất 2-3% tháng. Không trả được nợ, vợ tôi bị kiện ra tòa. Trong buổi toà giải, tòa lập luận rằng tôi là chồng nên phải cùng chịu trách nhiệm, Cho dù tôi không biết gì về việc này. Xin hỏi: Tòa xử vậy đúng hay sai? Nếu luật pháp buộc tôi như thế là đồng tình với bọn cho vay nặng lãi hay sao?

Trả lời:

_ Điều 25 Luật hôn nhân và gia đình đã qui định : “ Vợ hoặc chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thục hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình”.

Thông tin của ông chỉ thể hiện ông không biết việc vợ ông vay mượn tiền, nhưng không nói rõ số tiền vay này được dùng để làm gì. Nếu như việc vay mượn dùng cho sinh hoạt gia đình, chẳng hạn như nhu cầu ăn mặc hằng ngày, thuê, mua nhà, xây dựng sửa chữa nhà cửa, lo cho con cái học hành…, thì dù ông biết hay không biết việc vay mượn, ông cũng phải có trách nhiệm liên đới trả nợ.

Riêng về vấn đề lãi suất, pháp luật hình sự hiện hành qui định về tội “ cho vay lãi nặng” chỉ khi lãi suất cho vay từ 10 lần trở lên so với lãi suất cao nhất theo qui định pháp luật. Ông không nói việc vay mượn vào thời điểm nào, nhưng đối chiếu mức lãi suất 2-3%/tháng so với các mức lãi suất vay Ngân hàng Nhà nước qui định thời gian qua, thì trường hợp vay của vợ ông chưa phải là vay nặng lãi.


:: Câu hỏi 7:: Vợ chồng tôi có tài sản chung gồm một căn nhà cấp 4 diện tích 54m2 (có giấy chủ quyền hồng của hai vợ chồng) tại quận Tân Bình và một mảnh đất 100m2 đã có sổ đỏ do một mình chồng tôi đứng tên tại quận 7 năm 2003. Hiện chồng tôi đang làm thủ tục ly hôn và yêu cầu tòa án phân chia tài sản chung. Xin hỏi tôi có thể nhận được tài sản nào (nhà hay đất) nếu ly hôn?

Trả lời:

_ Về nguyên tắc, tài sản chung được chia đôi cho hai vợ chồng khi ly hôn. Dù mảnh đất do người chồng đứng tên nhưng nếu được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân thì cũng phải coi là tài sản chung, trừ khi sau này tại Tòa người chồng chứng minh được tiền mua đất là của riêng mình có được trước khi kết hôn. Đối với trường hợp của ông bà, toà án sẽ cho hai bên thỏa thuận xem ai là người được giữ lại tài sản và đó là tài sản nào (ví dụ: một người sẽ giữ nhà và người kia sẽ giữ đất) trong khối tài sản chung vợ chồng. Người nhận giữ một tài sản có trách nhiệm bồi hoàn cho người kia phần giá trị tài sản đó mà người kia được hưởng (sau khi chia đôi). Nếu cả hai không thỏa thuận được thì có khả năng tòa sẽ tuyên chia đôi sau khi phát mãi, mỗi người được hưởng giá trị của ½ căn nhà và ½ đất.

(Chồng tôi bệnh tật có phải là lý do để vợ xin ly hôn?)

:: Câu hỏi 8:: Tôi và vợ tôi chung sống được 10 năm và đã có 2 con. Từ năm 1997 trở lại đây tôi bị bệnh phải nằm viện liên tục, công việc đồng áng do một mình vợ tôi gánh vác, có nguồn tin vợ tôi thương một người đàn ông khác. Mới đây cô ấy đến bệnh viện cãi vã và tuyên bố ly hôn buộc tôi phải ký vào đơn ly hôn đã viết sẵn. Vậy tôi xin hỏi việc tôi bị bệnh có thể coi là nguyên nhân để vợ tôi ly hôn không? Pháp luật có cho phép vợ tôi ly hôn với tôi bây giờ không?

Trả lời:

_ Theo luật hôn nhân gia đình thì chỉ vì ông bị bệnh, không làm được việc để giúp đỡ vợ con mà coi là nguyên nhân để vợ ông xin ly hôn thì không chính đáng, thuyết phục và pháp luật không thể chấp nhận.

Tuy nhiên, nếu vợ ông gửi đơn xin ly hôn đến Tòa án, được Tòa án thụ lý thì ông có thể trình bày rõ hoàn cảnh, nguyện vọng của mình trước Toà. Khi đó tòa án sẽ điều tra, xác minh xem những lý do mà vợ ông đưa ra để xin ly hôn là có thật không và có chính đáng không/ Và đã đến lúc phải ly hôn chưa? Điều 40 Luật hôn nhân gia đình qui định: “Trong trường hợp 1 bên vợ hoặc chồng xin ly hôn nếu hòa giải không thành thì Tòa án xét xử. Nếu xét xử thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được thì TAND sẽ cho ly hôn”.

Trong trường hợp của ông, Tòa án sẽ cân nhắc kỹ lưỡng, dựa vào các qui định của pháp luật, hoàn cảnh thực tế, đánh giá suy xét mọi mặt để có những quyết định hợp tình, hợp lý, đảm bảo lợi ích hợp pháp, chính đáng của các bên, đặc biệt là hoàn cảnh của ông đang bị bệnh tật.


(Thi hành quyết định giao nuôi con)

:: Câu hỏi 9:: Tòa án ra quyết định giao con cho người vợ trực tiếp chăm non,nuôi dưỡng. Trong trường hợp này, cơ quan thi hành án phải chủ động ra quyết định thi hành án nuôi con theo quyết định của Toà án hay chờ người vợ yêu cầu thi hành án thì mới ra quyết định thi hành án và tổ chức việc thi hành án?

Trả lời:

_ Trước hết cần phải xác định của Tòa án về việc giao con, đó là quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hay quyết định giải quyết về việc ly hôn của vợ chồng trong đó có vấn đề giao nuôi con. Do vậy, nếu quyết định của Tòa án về việc giao con cho một bên đương sự chăn nom, nuôi dưỡng là quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo qui định tại khoản 2, Điều 41 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ngày 29/11/1989, thì căn cứ Điều 4, Điều 20 Pháp lệnh thi hành án dân sự ngày 21/4/1993 và khoản 1, Điều 8 Nghị định số 69/CP ngày 18/10/1993 của Chính phủ, trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được bản sao quyết định của Tòa án chuyển giao, thủ trưởng cơ quan thi hành án phải chủ động ra quyết định thi hành án. Sau khi ra quyết định thi hành án, thủ trưởng cơ quan thi hành án phân công chấp hành viên thi hành vụ việc. Chấp hành viên được phân công thi hành vụ việc phải lập hồ sơ thi hành án trong thời hạn 2 ngày kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án và thụ lý thi hành vụ việc đó. Trong trường hợp Tòa án tuyên giao con chung cho một bên vợ hoặc chồng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc tại quyết định giải quyết về việc ly hôn, thì không thuộc trường hợp chủ động ra quyết định thi hành án. Trong trường hợp này, cơ quan Thi hành án chỉ ra quyết định thi hành án và thụ lý, tổ chức thi hành vụ việc khi có đơn yêu cầu thi hành án của người có quyền yêu cầu thi hành án.


(Tài sản chung, riêng của vợ chồng)

:: Câu hỏi 10:: Vợ chồng tôi kết hôn từ năm 1995, có 4 con. Năm 2003, chúng tôi mua một căn nhà nhưng chỉ chồng tôi đứng tên trên giấy chủ quyền đồng sở hữu với một người khác (người mà chồng tôi vay nợ để mua căn nhà đó). Sau này khi chồng tôi trả xong nợ, người này đã làm hợp đồng tặng cho phần sở hữu của họ trong căn nhà trên cho chồng tôi, có chứng nhận của phòng công chứng. Năm 2005, chồng tôi bán toàn bộ căn nhà trên cho người khác mà không có ý kiến của tôi, hợp đồng cũng đã công chứng. Hiện bên mua đã yêu cầu giao nhà. Xin hỏi : tôi có còn quyền ở căn nhà này không ? Phòng công chứng chứng hợp đồng mua bán trên có đúng hay không? Có thể kiện yêu cầu hủy được không?

Trả lời:

_ Theo thông tin của bà, căn nhà trên do vợ chồng bà tạo lập trong thời kỳ hôn nhân. Do đó, đối với một nửa căn nhà mà dù chỉ chồng bà đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà (năm 2003), đó vẫn là tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên đối với một nửa căn nhà về sau đã được người cho vay (đứng tên trên nửa chủ quyền còn lại) làm hợp đồng tặng cho cho riêng chồng bà , theo pháp luật, là tài sản riêng của chồng bà. Trừ trường hợp chồng bà có văn bản đồng ý nhập tài sản riêng đó vào tài sản chung của vợ chồng (vì thực chất việc tặng cho này là từ việc vợ chồng bà thanh toán hết tiền nợ nhà còn lại cho người cho vay).

Theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, bà và chồng bà “có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung”, như vậy bà có quyền trong một nửa căn nhà thuộc quyền sở hữu chung của vợ chồng. Pháp luật cũng qui định đối với tài sản chung của vợ chồng mà phải đăng ký quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà phải ghi cả tên vợ lẫn chồng. Theo đó, trong quá trình mua bán nhà và làm thủ tục đăng ký giấy tờ sở hữu căn nhà, các bên và cơ quan thẩm quyền đã không thực hiện đúng và đầy đủ qui định pháp luật. Vì vậy, bà hoàn toàn có quyền khởi kiện tại toà án có thẩm quyền để yêu cầu hủy hợp đồng mua bán căn nhà nói trên.


(Quan hệ hôn nhân nào được pháp luật công nhận?)

:: Câu hỏi 11:: Chồng tôi mất tích mười năm và đã có quyết định tuyên bố là đã chết của tòa án. Hiện nay tôi đã kết hôn với người khác. Tuy nhiên, tháng trước chồng cũ của tôi trở về. Xin hỏi trường hợp của tôi, quan hệ hôn nhân nào được pháp luật công nhận?

Trả lời:

_ Theo khoản 1 điều 82 Bộ luật dân sự, khi có quyết định của tòa án tuyên bố một người đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ hôn nhân của người đó đương nhiên chấm dứt. Do đó, bạn có thể kết hôn hợp pháp với người khác mà không cần tiến hành thủ tục ly hôn với chồng cũ của bạn.
Điều 26 Luật hôn nhân và gia đình cũng qui định khi tòa án ra quyết định hủy bỏ tuyên bố một người là đã chết mà vợ hoặc chồng của người đó chưa kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân đương nhiên được khôi phục. Trường hợp vợ hoặc chồng của người đó đã kết hôn với người khác thì hôn nhân được xác lập sau có hiệu lực pháp luật. Do đó, nếu bạn đã có giấy chứng nhận kết hôn với người chồng mới thì quan hệ hôn nhân sau sẽ được pháp luật công nhận.

 

Bài viết có liên quan...

1. CHUYÊN TRANG TƯ VẤN PHÁP LUẬT - TẠP CHÍ ĐỊA ỐC VIỆT NAM Số 19 - T3/2012

Vui lòng xem thông tin tại đây - Download

 

2. CHUYÊN TRANG TƯ VẤN PHÁP LUẬT - TẠP CHÍ ĐỊA ỐC VIỆT NAM Số 16 - T12/2011

Vui lòng xem thông tin tại đây - Download

 

3. CHUYÊN TRANG TƯ VẤN PHÁP LUẬT - TẠP CHÍ ĐỊA ỐC VIỆT NAM Số 12 - T9/2011

Vui lòng xem thông tin tại đây - Download